Trân trọng giới thiệu với bạn yêu văn học cổ điển tuyệt phẩm Ulysses của James Joyce – một cuộc phiêu lưu tâm hồn chưa từng có! Tác phẩm là một tiểu thuyết gồm ba phần, xuất bản lần đầu năm 1922, được Tạp chí Time đánh giá là một trong những kiệt tác văn chương lớn nhất thế giới thế kỷ 20. Với ẩn dụ về sử thi Odysseus, thủ pháp dòng ý thức và nội dung được nén chặt bằng những sự kiện miên man trôi theo suy tưởng của các nhân vật diễn ra chỉ trong một ngày 16 tháng 6 năm 1904, Ulysses không chỉ là một cuốn sách, mà là một vũ trụ cảm xúc và tư tưởng gói gọn trong từng con chữ. Nó là tiếng vọng của một Dublin sống động, bí ẩn và đầy khắc khoải, nơi mỗi khoảnh khắc đều chứa đựng cả một quá khứ và tương lai.
CHƯƠNG I: MÀN KỊCH BÌNH MINH TRÊN THÁP MARTELLO
Bình minh chưa kịp xua tan màn sương ẩm ướt trên vịnh Dublin, nhưng trên đỉnh tháp Martello cổ kính, một màn kịch đã bắt đầu. Buck Mulligan, gã mập mạp với vẻ oai vệ lố bịch, xuất hiện từ đầu cầu thang. Hắn cung kính bưng một cái bát lớn, bên trong đầy bột xà phòng trắng muốt, phía trên là chiếc gương và con dao cạo được đặt thành hình chữ thập – một biểu tượng dị giáo, chế nhạo những nghi lễ thiêng liêng. Chiếc áo choàng màu vàng nghệ, không thắt dây lưng, bay phất phơ sau lưng hắn trong làn gió biển buổi sáng, tạo nên một hình ảnh nửa thần thánh nửa hề. Hắn giơ cao cái bát, cất giọng ngân nga, vang vọng trong không gian tĩnh mịch:
“Introibo ad altare Dei.” – “Ta bước đến bàn thờ Chúa.”
Giọng hắn vang dội, đầy kịch tính:
“Lên đây nào, Kinch! Lên đây nào, anh thầy tu run rẩy!”
Với vẻ uy nghiêm giả tạo, Mulligan bước tới, leo lên ụ súng hình tròn trên đỉnh tháp. Hắn quay nhìn tứ phương, chậm rãi và trang trọng ban phước ba lần: cho ngọn tháp già cỗi, cho đất liền và biển cả bao la, và cho những ngọn núi đang thức giấc từ giấc ngủ đêm. Bỗng, hắn thấy bóng dáng Stephen Dedalus, gã văn sĩ trẻ vẫn còn nặng trĩu giấc ngủ, đang dựa cánh tay trên cầu thang. Mulligan nghiêng người về phía Stephen, nhanh chóng làm dấu thánh trong không, miệng líu ríu những lời cầu chúc vô nghĩa, cái đầu gật gật. Stephen, với khuôn mặt còn gắt ngủ, lạnh lùng nhìn khuôn mặt phúng phính, thuỗn dài như mặt ngựa của Mulligan, mái tóc mỏng chưa cạo, bết thành từng lọn nhợt nhạt màu vàng lá sồi héo. Một ánh nhìn đầy khinh bạc và mệt mỏi.
Buck Mulligan liếc nhanh xuống mặt gương, rồi vội vàng che chiếc bát lại.
“Quay về doanh trại,” hắn nói một cách nghiêm nghị, rồi chuyển sang giọng điệu của một ông thầy thuyết giáo, “Vì đây, ôi các con chiên yêu quý, đây mới đích thực là Christine: thân thể và tâm hồn và máu và vết thương. Nhạc chậm nào. Nhắm mắt lại, các quý ông. Đợi chút. Mấy cái hạt trắng này không tạo thành bọt. Tất cả hãy yên lặng.”
Hắn ngước nhìn lên cao, thổi một hồi còi dài, chậm rãi. Rồi hắn dừng lại, chìm vào tư tưởng, hàm răng trắng đều điểm xuyết vài chiếc bọc vàng sáng loáng. Miệng vàng. Hai tiếng còi lanh lảnh đáp lại, xuyên qua tĩnh lặng buổi sớm.
“Cảm ơn, bạn già,” hắn thốt lên vẻ hoan hỉ. “Thế đủ tốt rồi. Tắt dòng điện ấy đi được không, bạn già hỡi?”
Hắn nhảy xuống khỏi ụ súng, cuốn lỏng cái áo choàng vào giữa hai chân, nhìn về phía Stephen. Khuôn mặt phúng phính và chiếc cằm xị xuống hình ôvan gợi nhớ một vị giám mục hay một người bảo trợ nghệ thuật thời Trung cổ, nhưng nụ cười dễ chịu hé mở trên môi hắn lại đầy vẻ giễu cợt.
“Nực cười là ở chỗ!” hắn nói vẻ thích thú. “Tên của anh bạn ấy, một cái tên Hy Lạp cổ đại!”
Hắn chỉ ngón tay trêu đùa, bước tới lan can, tự cười một mình. Stephen Dedalus, nặng nề và mệt mỏi, bước lên nửa chừng, rồi ngồi phịch xuống rìa ụ súng. Anh bất động quan sát Buck đặt chiếc gương lên bờ tường, nhấn chiếc chổi cạo vào bát nước, rồi quyệt lên má và cổ.
Buck Mulligan tiếp tục với giọng hớn hở, không ngừng nghỉ.
“Tên của tớ cũng lạ lùng thay: Malachi Mulligan, hai âm nhấn. Nhưng nó cũng bắt nguồn từ Hy Lạp, đúng thế không nhỉ? Ngắn gọn và tươi vui như chính anh chàng vậy. Chúng ta phải đi Athens thôi. Anh sẽ đi chứ nếu tôi có thể khiến bà dì chìa ra 20 đồng vàng?”
Hắn đặt chiếc chổi quét nước cạo sang một bên, cười khoái trí, rồi thốt lên:
“Chàng sẽ đi chứ? Anh thầy tu ngô nghê?”
Tiếng cười tắt lịm, hắn bắt đầu cạo với vẻ cẩn thận đến bất ngờ.
“Tôi muốn biết, Mulligan,” Stephen nói nhỏ nhẹ, giọng đầy vẻ miễn cưỡng.
“Gì thế, bạn yêu quý của tôi?”
Buck Mulligan để lộ một bên má đã cạo qua bờ vai phải của mình. "Haines còn ở lại tháp này bao lâu?"
“Ôi trời, anh ta khó chịu nhỉ?” Buck nói vẻ thành thật, nhưng ánh mắt lấp lánh sự giễu cợt. “Một cậu chàng Saxon tẻ nhạt. Anh ta nghĩ cậu không phải là một người hào hoa phong nhã. Chúa ơi, những người Anh khó chịu này! Lúc nào cũng tỏ vẻ có tiền và chẳng cần hiểu gì sất… Vì anh ta là dân Oxford. Cậu cũng biết mà, Dedalus, cậu có kiểu cách thực sự của dân Oxford. Anh ta chẳng thể nào hiểu nổi cậu đâu. Ồ, tên cậu tớ đặt mới là nhất: Kinch, anh chàng lưỡi dao.”
Buck cẩn thận cạo qua cạo lại phía cằm.
“Anh ta lảm nhảm suốt đêm về con báo đen,” Stephen nói, giọng anh đặc quánh sự lo lắng. “Anh có biết hắn để hộp súng ở đâu không?”
“Một gã điên sắp hóa sói!” Mulligan nói, tiếng cười khẩy vang lên. “Cậu có lo lắng quá không đấy?”
“Đúng là tôi lo thật,” Stephen đáp, giọng rõ ràng để lộ nỗi sợ hãi đang lớn dần. “Trong bóng tối tôi ở cùng với một gã tôi không quen biết ám ảnh và rên rỉ về việc đi bắn một con báo đen. Anh đã cứu một người khỏi chết đuối. Nhưng tôi lại không phải là anh hùng. Nếu anh ta trọ ở đây tôi sẽ chuyển đi chỗ khác.”
Buck Mulligan cau mày khi thấy bọt xà phòng dính trên lưỡi dao cạo. Hắn nhảy xuống khỏi bục đá và vội vàng lục lọi hết các túi quần của mình. “Lộn xộn hết sức!” hắn rối rít kêu lên. Hắn bước tới ụ súng, xục tay vào túi ngực của Stephen, rồi thô lỗ bảo:
“Cho tớ mượn cái khăn xỉ mũi của cậu để lau cái lưỡi dao nhé.”
Stephen miễn cưỡng rút ra một chiếc khăn mu-xoa lấm tấm những vệt bẩn. Buck Mulligan lau qua lau lại dao cạo, rồi ngắm nghía chiếc khăn mu-xoa với vẻ châm biếm:
“Cái khăn xỉ mũi của nhà thơ có khác! Một màu nghệ thuật mới cho các nhà thơ Ai-Len của chúng ta: Màu xanh nhầy nhầy. Có vẻ như cũng có thể nếm được nhỉ?”
Rồi hắn lại bước trở lại bờ tường lan can, nhìn bao quanh toàn vịnh Dublin, làn tóc sáng màu nâu nhạt bay phất phơ. “Chúa ơi!” Buck nhẹ nhàng thốt lên, giọng điệu thay đổi, giờ đây đầy chất thơ giả tạo. “Đây có phải là biển cả như Algy đã gọi: mẹ ngọt ngào xanh xao? Biển cả xanh xanh thẫm là. Biển đang co thắt lại như bìu dái co thắt. Trên mặt biển lúc tối sẫm. À, Dedalus này, mấy huyền thoại Hy Lạp! Tớ phải dạy cậu mới được. Cậu phải đọc nguyên văn mới được. Ôi biển cả! Ôi biển cả! Bà là bà mẹ vĩ đại ngọt ngào. Lại đây coi nào.”
Stephen đứng dậy và tiến lại phía lan can. Đứng dựa vào bờ tường, anh nhìn xuống dòng nước và con tàu bưu chính đang chuẩn bị rời bến cảng Kingstown. “Ôi mẹ toàn năng!” Buck Mulligan nói, cặp mắt xám của hắn hết dò xét biển cả lại nhanh chóng quay sang khuôn mặt của Stephen.

Tháp Martelo Tower và bãi Sandycove, gần Dublin, nơi họ đang đứng. Ảnh Internet
Âm Vang Của Quá Khứ và Nỗi Đau Âm Ỉ
“Dì cậu nghĩ cậu làm mẹ cậu buồn mà chết. Vì thế mà bà ấy cấm tớ không dính dáng đến cậu.”
“Tôi đâu phải nguyên nhân làm mẹ chết đâu,” Stephen nói, giọng u sầu, tiếng nói như vọng ra từ vực sâu của nỗi đau.
“Cậu đã có thể quỳ xuống, khỉ thật. Chàng nhóc ạ, một khi mẹ cậu đang hấp hối,” Buck Mulligan nói, giọng hắn bỗng trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn. “Tôi cũng là người không ưa hình thức như cậu. Nhưng chuyện mẹ cầu xin cậu bằng hơi thở cuối cùng là cầu xuống và cầu nguyện cho bà ấy. Thế mà cậu lại từ chối. Có chút gì độc ác ở cậu thì phải…”
Hắn bỏ dở câu nói và quét một lớp xà phòng nhẹ bên má phải. Một nụ cười làm hòa thoáng thấy trên môi, nhưng sự độc địa vẫn còn vương vấn.
“Nhưng quả là diễn viên câm đáng yêu thật!” hắn lẩm bẩm với chính mình, như thể không phải Stephen đang đứng đó. “Chàng nhóc này, là một diễn viên kịch câm đáng yêu nhất!” Rồi hắn cạo nhẵn nhụi và cẩn thận, trong im lặng, một cách chú tâm, như một nghệ sĩ đang hoàn thành tác phẩm của mình.
Stephen, một khuỷu tay tựa vào mặt đá granite lởm chởm, đặt lòng bàn tay lên hàng lông mày và nhìn chằm chằm vào mép áo khoác đen bóng tay dài đã sờn. Đau thật, nhưng đó chưa phải là nỗi đau tình ái, thế mà đã làm anh phiền não đến tận xương tủy. Nhẹ nhàng, không nói, mẹ anh len lỏi vào giấc mơ khi anh ngủ sau khi bà mất, cơ thể gầy gò của bà trong chiếc áo quan màu nâu thùng thình tỏa ra màu nến và gỗ hồng, hơi thở của bà, tỏa vào người anh, thầm lặng, quở trách, một mùi thoang thoảng của tro tàn ẩm ướt. Qua cái viền cổ tay áo cũ xì, anh thấy biển gọi anh bằng giọng vút cao như một bà mẹ vĩ đại tuyệt vời. Bên ngoài vành đai vịnh và phía chân trời ôm trọn một khối lỏng mang màu xanh mờ đục. Một bát sứ trắng được đặt cạnh bên giường bà nằm chứa thứ chất dịch nhầy màu xanh mà bà thổ ra từ bên trong lá gan hư hoại sau những tiếng rên la đau đớn. Buck Mulligan lại chùi lưỡi dao cạo của mình lần nữa.
“Ái chà, tội nghiệp anh chàng rách rưới!” hắn nói giọng thương cảm giả tạo. “Tôi phải đưa cho cậu mấy cái áo sơ-mi và mấy cái khăn mu-xoa mới được. Mấy cái quần cũ bữa trước thế nào?”
“Chúng vừa vặn lắm,” Stephen trả lời, giọng khô khốc.
Buck Mulligan đưa tay cạo phần trũng phía dưới môi của mình. “Tức cười thật đấy,” hắn nói vẻ hài lòng. “Chúng thải ra được rồi. Chúa mới biết tụi đói rách bỏ đi cái gì. Tớ có một cái quần với sọc nâu đẹp lắm, màu xám. Cậu mặc vào trông cũng oách lắm. Tớ không đùa đâu, chàng nhóc. Cậu trông cũng hấp dẫn lắm nếu ăn mặc tử tế.”
“Cảm ơn anh,” Stephen nói, như một cái máy. “Tôi không thể mặc mấy thứ màu xám được.”
“Cậu chàng không mặc được những thứ ấy,” Buck Mulligan tự nói chuyện trong gương, giọng đầy vẻ giễu cợt. “Qui tắc là qui tắc. Cậu ta làm mẹ buồn mà chết nhưng lại không thể mặc mấy cái quần màu xám.”
Hắn gập con dao cạo lại gọn gàng rồi xòe tay thử cảm giác mềm mại ở da. Stephen quay mặt từ biển vào nhìn khuôn mặt phúng phính với đôi mắt linh hoạt màu khói xanh lam của Buck.
“Có một gã tôi gặp trên tàu tối qua,” Buck Mulligan nói, giọng hắn bỗng trở nên đầy vẻ bí mật, “nói cậu mắc bệnh giang mai. Anh ta sống ở nhà thương điên Dottyville với Connolly Norman. Bệnh giang mai cơ đấy!” Buck giơ cái gương lên, lau nửa vòng để truyền tin tức đi khắp nơi trong ánh sáng rực rỡ ngoài biển khơi. Đôi môi được cạo sạch sẽ đang cười cong cớn để lộ khóe răng trắng lấp lánh.
“Trông anh kìa, Buck nói, một nhà thơ nhìn mới thảm hại làm sao!”
Stephen cúi mình về phía trước và nhìn vào tấm gương được giữ trước mặt anh, nứt một đường vặn vẹo trông thấy rõ. Mấy sợi tóc con dính ở gờ gương. Anh thấy mình như hắn và những người khác thấy. Ai đã chọn cho mình gương mặt này? Vẻ rách rưới với chấy rận này? Tấm gương như hỏi anh. “Tớ lấy cái gương này từ phòng cô hầu đấy,” Buck Mulligan nói, như để tăng thêm sự giễu cợt. “Cô ta chả nói gì cả. Bà dì luôn tuyển những cô hầu trông xấu xấu cho Malachi. Để cậu ta không bị cám dỗ kéo vào tròng. Cô hầu ấy tên là Ursula.”
Rồi lại vừa cười cười, hắn vừa đưa cái gương ra xa khỏi cặp mắt đang chăm chú nhìn của Stephen. “Caliban tức giận vì không được trông thấy mặt mình trong gương,” hắn nói, như thể Stephen là một kẻ quái dị. “Nếu Wilde mà còn sống để nhìn thấy cậu nhỉ!”
Vừa lùi lại vừa chỉ vào gương, Stephen nói với vẻ chua xót, giọng anh như xé ra từ tâm can:
“Đấy là biểu tượng của nghệ thuật Ai-Len. Cái gương soi nứt nẻ của một cô hầu.”
Buck Mulligan bỗng nhiên nắm lấy tay của Stephen và dẫn anh đi dạo vòng quanh tháp, con dao cạo và gương va vào nhau lanh canh trong túi hắn. “Trêu chọc cậu vậy thật là không phải tý nào, hả, chàng nhóc?” hắn nói vẻ thành thật một cách đáng ngờ. “Chúa biết là cậu có tâm hồn hơn tất thảy bọn họ.”
Lại nói tránh rồi. Stephen biết, hắn sợ cái tinh hoa nghệ thuật của mình cũng giống như mình sợ cái của anh ta vậy. Ngòi bút sắt lạnh lùng. “Cái gương nứt nẻ của một cô hầu! Xuống nói với gã Sắc xông dưới nhà và hỏi mượn mấy đồng lẻ. Anh ta kẹo lắm mà anh ta cũng chẳng nghĩ cậu là một quý ông. Bố anh ta kiếm tiền bằng cách bán thuốc tẩy ở chiến trận Zulus hay mấy trò bịp gì đó. Lạy Chúa, chàng nhóc, nếu cậu với tớ làm việc cùng nhau chúng ta có thể làm gì đó cho hòn đảo này. Hãy phóng thích nó.”
Cánh tay của Cranly. Tay của cậu ấy. Khi nghĩ đến cậu khi phải đi van nài tụi bẩn thỉu đó. Tớ là người duy nhất hiểu cậu là người như thế nào. Sao cậu không tin tưởng vào tớ hơn nữa được nhỉ? Sao cậu lại phải giữ khoảng cách với tớ làm gì? Có phải vì Haines? Nếu cậu ta có làm ầm ĩ ở đây tớ sẽ kêu Seymour và tụi mình sẽ cho hắn một trận nhớ đời còn tệ hơn là vụ chúng làm với Clive Kepmthorpe.
Tiếng quát tháo của mấy đứa có tiền trong phòng của Clive Kemthorpe. Những khuôn mặt tái nhợt: chúng ôm bụng cười ngoặt ngoẽo, thằng nọ ôm thằng kia. Ôi, tớ sắp chết đến nơi rồi! Hãy giải thích với Aubrey, nói với nàng từ từ thôi! Tớ sẽ chết mất! Với dải áo sứt vung vẩy trong không cậu ta bước tập tễnh và bò quanh cái bàn, cái quần kéo xuống tận mắt cá chân, bị Ades Magdalen rượt với cái kéo của thợ may. Một bộ mặt sợ hãi của thằng búng ra sữa bị bôi đầy mứt. Tôi không muốn bị rượt nữa! Anh thôi cái trò làm con bò chóng mặt này đi!
Tiếng quát tháo từ ô cửa sổ mở toang làm khoảng sân giật mình trong đêm tối. Một ông thợ làm vườn lãng tai, ăn mặc rách rưới, trông như Matthew Arnold, đẩy cái máy cắt cỏ trên nền đám cỏ xám đen mờ mịt chăm chú nhìn bụi cỏ bứng lên. “Hãy chúc mừng chúng ta…đạo giáo mới…cái rốn của văn hóa.”
“Thôi hãy để anh ta ở lại,” Stephen nói, giọng đều đều như từ chối tranh cãi. “Anh ta chả làm gì sai cả trừ ban tối.”
“Vậy thì là cái gì?” Buck Mulligan hỏi vẻ mất kiên nhẫn, sự thân thiện giả tạo tan biến. “Huỵch toẹt ra đi. Tớ lúc nào cũng thành thật với cậu. Cậu có gì không đồng ý nào?”
Họ dừng bước, nhìn theo mũi đất tù phía Bray Head nhô lên trên mặt nước như mõm của con cá heo đang ngủ. Stephen lặng lẽ rút tay anh ra, một hành động nhỏ nhưng chất chứa sự từ chối sâu sắc.
“Anh có thực muốn tôi nói ra không?” Stephen hỏi, giọng anh lạnh lẽo đến tận xương.
“Có, là chuyện gì thế?” Buck Mulligan trả lời, vẻ mặt hắn đầy ngạc nhiên giả bộ. “Tớ chẳng nhớ cái gì cả.” Hắn vừa nói vừa quan sát nét mặt của Stephen. Một làn gió nhẹ bay qua lông mày của Stephen, nhẹ nhàng lùa vào mái tóc chưa chải của anh và trong ánh mắt thoáng thấy nét băn khoăn. Stephen, nghe giọng mình mỏi mệt, như thể phải đào bới từ một nơi rất sâu thẳm:
“Anh còn nhớ ngày đầu tiên tôi đến nhà anh sau khi mẹ tôi mất?”
“Ngày nào nhỉ? Ở đâu ta? Tớ chẳng nhớ gì sất. Tớ chỉ nhớ ý kiến và xúc cảm thôi. Mà tại sao? Vì Chúa ngày ấy đã xảy ra chuyện gì nhỉ?”
“Anh đang pha trà,” Stephen nói, “và xuống bếp để lấy thêm nước nóng. Mẹ anh và một vài người khách nữa vừa bước ra khỏi phòng họa. Mẹ anh hỏi anh là anh đang tiếp ai ở trong phòng.”
“Đúng thế?” Buck Mulligan nói, như để câu giờ. “Thế tớ đã trả lời thế nào? Tớ quên mất rồi.”
“Anh nói, ‘Ồ, Dedalus ấy mà mẹ cậu ấy vừa chết thảm lắm.’”
Một thoáng ửng đỏ trên má của Buck Mulligan làm hắn trông trẻ và thu hút hơn, nhưng sự ngượng ngùng lại tố cáo hắn. “Tớ nói thế thật à? Thế thì sao? Có làm hại cậu gì không?” Hắn cố gắng che đậy vẻ bối rối của mình bằng sự hung hăng.
“Còn cái chết là gì,” hắn hỏi, giọng chợt chuyển sang vẻ triết lý rẻ tiền, “của mẹ cậu hay của cậu hay của tớ? Cậu chỉ nhìn thấy mẹ cậu chết thôi. Còn tớ nhìn thấy nó viếng thăm hàng ngày ở Mater và Richmond và gan ruột phổi phèo cắt tùm lum ở phòng giải phẫu. Đó chỉ là thứ rùng rợn thế thôi. Nó chẳng đáng bận tâm. Cậu chẳng còn quỳ xuống cầu nguyện cho mẹ cậu lúc mẹ cậu hấp hối trên giường còn gì nữa. Tại sao ư? Vì trong cậu có thứ tà đạo, chỉ vì nó được truyền theo lối sai trái. Với tớ tất cả chỉ là thứ để chế giễu dù rùng rợn thôi. Bán cầu não phải của bà rối loạn chức năng. Bà gọi bác sĩ là ngài Peter Teazle rồi còn bứt mấy bông mao lương vàng thêu trên mền nữa chứ. Còn nhiều chuyện chọc cho bà cười đến khi bà mất hẳn. Cậu không đáp lại ước muốn lần cuối của bà vì thế nên cậu trách cứ tớ bởi vì tớ không khóc lóc như mấy bà khóc thuê của hãng Lalouette. Lạ thật đấy! Cứ cho là tớ có nói vậy đi. Tớ cũng không có ý muốn làm tổn thương trí nhớ của cậu về mẹ mình.”
Hắn nói một thôi một hồi, cố gắng dùng lời lẽ che đậy sự hèn nhát và vô tâm. Stephen, ghìm lại những vết thương đang âm thầm rên rỉ trong lòng khi nghe những lời trên, nói rất lạnh lùng, giọng anh như băng giá:
“Tôi không nghĩ anh có ý gì xúc phạm đến mẹ mình.”
“Vậy cậu nghĩ gì?” Buck Mulligan hỏi, vẻ mặt đầy thách thức.
“Nghĩ về việc anh xúc phạm tôi,” Stephen trả lời, một lời kết tội thẳng thừng và sắc bén.
Buck Mulligan xoay xoay mình trên gót giày, vẻ mặt biến sắc. “Ôi chao, cậu quả đúng là người phức tạp!” hắn thốt lên, giọng điệu chuyển từ giận dữ sang bực dọc.
Rồi hắn bước nhanh vòng quanh bệ đá. Stephen vẫn đứng nguyên tại chỗ, qua mặt biển hiền hòa anh nhìn xa xăm về phía mũi biển. Biển và mũi biển bỗng trở nên lờ mờ, như được bao phủ bởi một tấm màn nước mắt. Cảm xúc đang rần rật trong mắt anh, đang hiện ra rõ hơn, làm anh cảm thấy má mình nóng lên, một dấu hiệu của sự tổn thương sâu sắc mà anh cố giấu kín. Một tiếng gọi rõ to vọng ra từ trong tháp:
“Cậu có ở trên đó không, Mulligan?”
“Tôi xuống ngay đây,” Mulligan trả lời, giọng hắn trở lại vẻ bình thường. Hắn quay về phía Stephen rồi bảo:
“Hãy ngắm nhìn biển cả đi. Mấy chuyện tự ái đó thì có làm sao chứ? Học như thánh Ignatius Loyola ấy. Chàng nhóc ạ, rồi xuống dưới đó nhé. Thằng oắt Sắc xông đó muốn ăn dăm bông ấy mà.” Nói rồi hắn dừng thêm chút nữa ở phía đầu cầu thang, ngang bằng với mái: “Đừng có rầu rĩ cả ngày đấy,” hắn bảo. “Tớ không đoán ra được đâu. Hãy bỏ những ý nghĩ ủ dột ấy đi.” Không thấy cái đầu hắn nhô ra nữa nhưng vẫn nghe thấy giọng hắn vang vang ngoài cầu thang, ngân nga một giai điệu quen thuộc:
“Không còn những trăn trở và buồn rầu
Về những thứ bí ẩn đắng cay của tình yêu
Vì lẽ Fergus lái những cỗ xe lì lợm.”
Bóng cây lặng lẽ trùm lên vạn vật trong buổi sáng yên ả từ chỗ đầu cầu thang hướng ra biển nơi anh đang phóng tầm mắt chăm chú. Ven bờ và xa hơn chút nữa mặt biển trắng xóa như gương, như vừa có bàn chân của vị thần đi giầy có cánh vội lướt qua đó. Lớp sóng trắng giữa biển xanh xám xịt. Đôi nốt nhấn cùng một nhịp, cứ đôi nhịp thì nhấn đôi nốt một lần. Một bàn tay đang lướt trên những dây đàn hạc, rung lên những hợp âm. Sóng bạc bọc lấp lánh con chữ trên dòng nước mờ mờ.
Một đám mây bỗng đâu từ từ che khuất mặt trời, rồi che toàn bộ, phủ một bóng xanh xẫm lên vịnh. Nằm dưới chân anh, một bầu nước mặn. Bài ca của Fergus vang vọng trong tâm trí Stephen, hòa cùng nỗi lòng anh: “Tôi cất tiếng hát một mình giữa nhà, ngân nga những âm u buồn. Cánh cửa nhà cô ấy mở ra: cô ấy muốn nghe tôi hát.” Sợ hãi và thương cảm nhưng lặng thinh. Tôi đến đứng bên cạnh giường của cô. Cô đang nằm khóc thảm thê trên giường. Mấy từ này, Stephen: bí ẩn cay đắng của tình yêu. Giờ thì ở đâu nhỉ?
Những bí mật của bà: một chiếc quạt lông cũ, có ghi tên bạn nhảy điệu nào có tua rua, được phủ lớp phấn thơm mùi xạ hương, mấy chuỗi hạt màu hổ phách lòe loẹt trong khay tủ được khóa lại. Một chiếc lồng chim treo bên cửa sổ đầy nắng khi bà còn là một cô bé. Bà nghe thấy giọng của Royce già hát trong vở kịch câm Turko Nỗi khiếp sợ và cười cợt với bạn khi nghe ông ấy hát: “Tôi là cậu bé, đứa có thể thưởng thức những thứ không thể nhìn.” Tiếng cười không giống ai, rồi quạt được gập lại: tỏa ra làn xạ hương. Và không còn nỗi trăn trở và buồn rầu.
Ký ức về mấy thứ vật dụng của bà rồi cũng khép lại. Những ký ức ấy bủa vây lấy tâm trí sầu não của anh. Cốc nước từ vòi nước trong bếp khi bà sửa soạn gần xong lễ cầu nguyện. Một quả táo đã lấy lõi, được nhồi đường nâu, được nướng cho bà ở lò sưởi trong đêm tối mùa thu. Những móng tay cắt tỉa gọn gàng của bà dính máu đỏ từ mấy con chấy bị đì nát trên áo mấy đứa trẻ.
Trong giấc ngủ, anh mơ thấy bà, lặng lẽ, thân thể gầy gò của bà trong chiếc áo quan tỏa ra mùi sáp nến và gỗ hồng mộc, hơi thở của bà, vòng xuống phía anh với những từ bí ẩn không thành tiếng, một mùi thoang thoảng của tro bụi ẩm ướt. Mắt bà ngân ngấn nước, nhìn chòng chọc lúc lâm chung, khuấy động và xâm chiếm tâm tôi. Chỉ mình tôi thôi. Cây nến ma thắp sáng nỗi thống khổ của bà. Ánh sáng ma mị trên gương mặt đau đớn ấy. Tiếng rên rỉ đinh tai thở ra nỗi sợ hãi, trong khi tất cả đang quỳ xuống cầu nguyện. Bà đưa mắt nhìn tôi nhắn tôi quỳ xuống. Cầu cho những giáo sĩ nghe xưng tội, đang tỏa hương như bông lily, xúm quanh bà. Cầu cho những thánh nữ, hân hoan đón bà tới.
Những con ma cà rồng! Những con ma ăn xác chết! Không, mẹ ơi! Hãy để con yên, hãy để con sống.
“Chàng nhóc kia ơi!” Giọng của Buck Mulligan đang líu lo vọng ra từ trong tháp. Nó có vẻ đã đến gần chân cầu thang, gọi thêm lần nữa. Stephen, còn đang run lẩy bẩy khóc thầm trong tâm, nghe đâu đây như ánh sáng đang tan chảy ấm áp vào luồng không khí sau lưng anh khi nghe những từ ngữ thân thiện ấy.
“Dedalus, xuống đây đi, cứ thong thả mà đi nhé. Bữa sáng đã soạn xong rồi đấy. Haines xin lỗi vì đã đánh thức cậu tối qua. Chuyện ổn cả rồi.”
“Tôi xuống đây,” Stephen nói, quay người lại.
“Xuống ngay đi, hãy vì Jesus,” Buck Mulligan nói. “Vì tớ và vì tất cả chúng ta nữa.” Nói rồi hắn quay đi nhưng lại quay lại. “Tớ kể nó ấy nghe cậu gọi biểu tượng của nghệ thuật Ai-Len là gì. Nó bảo cậu rất thông minh. Vay nó một bảng đi. Thôi vay đồng ghi-ni ấy.”
“Sáng nay tôi có tiền,” Stephen nói, giọng đều đều.
“Học bổng ở trường à?” Buck Mulligan hỏi, giọng hắn như bắt được vàng. “Bao nhiêu thế? Bốn đồng à? Cho bọn tớ vay một đồng đi.”
“Nếu anh muốn,” Stephen nói.
“Bốn đồng thần hiệu lấp lánh,” Buck Mulligan thốt lên vẻ hoan hỉ, nhảy cẫng lên. “Chúng ta sẽ uống ra trò cho mấy ông thầy tu trố mắt ra. Bốn đồng màu nhiệm quyền năng.” Nói rồi hắn vung tay lên cao và bước xuống cầu thang mấy bậc cầu thang đá, hát rông rài với giọng như người ở phía đông Luân –Đôn.
“Ôi, chúng ta có giây phút ngất ngây sao,
Uống uýt-ki, bia và rượu!
Vào ngày hoàng đế lên ngôi,
Ngày ta được lĩnh lương!
Ôi, giây phút tuyệt vời ấy
Ngày ta được lĩnh lương!”
Ánh nắng ấm áp làm mặt biển tươi tỉnh. Cái bát nước cạo râu làm bằng mạ kền cũng sáng lấp lánh, bị bỏ quên, trên mặt tường. Sao mình lại phải mang xuống nhỉ? Hay kệ cứ để ở đó cả ngày, tình bạn bị bỏ quên? Anh đến bên cái bát, cầm nó trong tay một lúc, cảm nhận cái hơi lạnh của nó, ngửi thấy mùi nước dãi sền sệt trong bọt xà bông làm cái chổi quét râu dính chặt vào. Vậy đấy trước đây mình đã mang một con thuyền đựng hương trầm ở Clongowes. Giờ thì mình là con người khác mà vẫn như con người trước. Cũng lại trong vai một kẻ hầu hạ. Tôi tớ của kẻ tôi tớ.
Trong căn phòng khách ảm đạm của tháp có mái vòm đó, bóng Buck Mulligan trong chiếc áo choàng đi lại thoăn thoắt quanh cái lò sưởi, ánh vàng của tấm áo lúc ẩn lúc hiện. Hai vạt ánh sáng nhẹ ban mai từ phía lũy ngoài chiếu xuống nền nhà lát bằng đá phiến: và tại điểm hai đường sáng đó gặp nhau một đám khói từ lò than quyện với mùi của mỡ rán, dần tỏa ra.
“Chúng ta sẽ có bữa vui đây,” Buck Mulligan nói, giọng hắn đầy hứa hẹn. “Haines, cậu mở cửa ra cho tớ đi, được không?”
Stephen đặt bát nước cạo râu trên tủ đồ. Một bóng người cao ráo đang ngồi trên chiếc võng bật dậy, bước tới cánh cửa và kéo lớp cửa phía trong. “Cậu có chìa khóa không?” Một giọng nói trầm thấp cất lên hỏi.
“Dedalus có,” Buck Mulligan nói, giọng phấn khích. “Janey Mack, tớ có tin vui đây!” Rồi anh ta gào lên, mặt vẫn không rời bếp lửa: “Chàng nhóc đâu rồi!”
“Nó ở trong cái khóa ấy,” Stephen nói, bước lại gần.
Tiếng chìa khóa lanh canh vang lên hai lần, rồi cánh cửa nặng nề được đẩy sang hai bên, mở toang đón ánh nắng và không khí sáng sủa vào phòng. Haines đứng ở bậc cửa, nhìn dò xét Stephen với ánh mắt xa lạ. Stephen kéo chiếc va-li đã được dựng đứng đến chiếc bàn và ngồi lên va-li chờ đợi, một bức tượng sống động của sự cam chịu. Buck Mulligan hất đĩa trứng rán trên chiếc đĩa cạnh anh ta. Rồi anh ta mang đĩa thức ăn và một bình trà lớn sang phía bàn, nặng nề đặt xuống và thở dài nhẹ nhõm. “Tớ đang vã cả mồ hôi ra đây,” hắn nói, “như cái cây nến cháy lúc… Ấy chết! Không nói về chủ đề đó nữa! Chàng nhóc ơi, dậy đi! Bánh mỳ, bơ, mật ong đây. Haines, vào đây đi. Bữa nhậu đã chuẩn bị xong. Xin Chúa phù hộ, đã cho con đồ ăn. Đường đâu nhỉ? Ôi trời, hết sạch sữa rồi.”
Stephen với tay lấy bánh mì và lọ mật ong rồi qua tủ đồ lấy khay lạnh đựng bơ. Buck Mulligan ngồi phịch xuống bàn, vẻ mặt đầy khó chịu. “Làm ăn cái kiểu gì thế này?” hắn nói. “Tớ bảo với bà ấy là đến sau tám giờ.”
“Thôi chúng ta uống trà đen cũng được,” Stephen nói với vẻ khát khô. “Có chanh ở trong tủ đồ đó.”
“Ôi, khỉ gió cái cậu này và cả kiểu cách thời thượng Pa-ri của cậu nữa!” Buck Mulligan said. “Tớ muốn sữa Sandycove.”
Haines từ bậc cửa bước vào nhẹ nhàng nói:
“Bà bán sữa đang lên kia kìa.”
“Chúa phù hộ cho bà!” Buck Mulligan thốt lên, bật dậy khỏi ghế như một cái lò xo. “Ngồi xuống nào. Rót trà đi chứ. Đường ở trong túi ấy. Đây này, Tớ không thể làm hỏng mấy quả trứng chết tiệt này được.”
“Nhân danh Cha, Con, và Thánh Thần.” Hắn úp mấy quả trứng rán lên đĩa và sớt ra ba đĩa khác, vừa làm vừa lẩm bẩm. Haines đã ngồi xuống bàn và rót mấy chén trà.
“Tớ sẽ bỏ mỗi cậu hai viên đường nhé,” anh nói. “Nhưng, tớ nghĩ, Mulligan, cậu cũng pha trà đặc, đúng không nhỉ?”
Buck Mulligan, đang khứa những lát bánh mì dày, nói nhại giọng eo éo của một bà già: “Khi ta pha trà ta pha trà, Mẹ già Grogan nói thế. Còn khi ta nấu nước thì ta nấu nước.”
“Chúa ơi, đây là trà mà,” Haines nói.
Buck Mulligan vẫn tiếp tục cứa bánh mỳ và nhại giọng éo ắt: “Cách tôi làm là thế, bà Cahill ạ, mẹ Goragan nói. Thấy rồi, thưa bà, bà Cahill nói, Chúa dạy ta không pha trà và nấu nước trong cùng một ấm.” Rồi anh ta xoay nhanh qua hai anh bạn bú rù đặt lên đĩa mỗi người một lát bánh mì thật dày, được xắt gọn gàng. “Truyện dân gian thôi,” hắn nói vẻ thành thật, “để anh bạn viết sách nhé, Haines. Năm dòng chữ và mười trang ghi chú về truyện dân gian và con cá thần của Dundrum. Được mấy chị em gái quái dị in trong năm đầy gió lớn.”
Rồi hắn quay qua Stephen và hỏi với giọng thắc mắc dễ chịu, nhướn hai hàng lông mày: “Cậu nhớ lại xem lại, cậu em, có phải chuyện của mẹ Grogan pha trà và ấm nước được nhắc đến trong tập Mabinogion hay trong cuốn Áo Nghĩa Thư?”
“Tôi không nghĩ là nó được viết ở trong hai cuốn đó,” Stephen buồn bực nói.
“Thế giờ nghĩ ra chưa?” Buck Mulligan hỏi vẫn giọng ấy, sự kiên nhẫn dần cạn kiệt. “Có bận gì mà nghĩ chửa ra, cầu nguyện à?”
“Tôi nghĩ là,” Stephen nói trong khi vẫn đang ăn, “nó không có trong hoặc ngoài cuốn Mabinogion. Mẹ Grogan, chỉ là ai đó tưởng tượng ra, một hình tượng từ Marry Ann.”
Gương mặt của Buck Mulligan trở nên tươi rói hẳn. “Hay tuyệt!” hắn nói vẻ ngọt ngào khác thường, để lộ hàm răng trắng và chớp mắt vui vẻ. “Cậu nghĩ bà ấy có thật là hình tượng từ Mary Ann? Hay thật đấy!”
Rồi thì, bỗng nhiên có cái gì đó xua đi toàn bộ thái độ dễ chịu đó, vừa chặt một nhát xuống ổ bánh mì hắn lẩm bẩm với giọng cộc cằn gay gắt: “Vì Mary Ann đã già. Chẳng buồn quan tâm thứ mẹ gì. Thế mà, sột soạt kéo vạt váy lót lên…” Hắn đưa miếng trứng to vào miệng nhồm nhoàm nhai.
Bậc cửa tối lại có bóng dáng ai đó đang bước vào.
“Sữa đây, thưa ngài!”
“Vào đây, bà ơi,” Mulligan nói, giọng hắn trở nên trịch thượng. “Này anh chàng, lấy bình đựng sữa đi.”
Một người phụ nữ già cả, dáng vẻ gầy gò, bước tới và đứng đến khuỷu tay của Stephen. “Bữa sáng nay dễ chịu thật, thưa ngài,” bà nói, giọng run run. “Là nhờ ơn Chúa.”
“Nhờ ơn ai kia?” Mulligan nói, liếc nhìn bà, ánh mắt hắn đầy vẻ chế nhạo. “À, để nghe cho rõ ấy mà!”
Stephen đi về phía tủ đồ lấy ra một chiếc bình đựng sữa. “Mấy người ở đảo ấy mà,” Mulligan quay sang nói với Haines với giọng cởi mở, như đang kể một giai thoại thú vị, “hay kể chuyện có những người sưu tầm mấy miếng da quy đầu.”
“Bao nhiêu đây, thưa ngài?” Bà già hỏi.
“Cỡ một phần tư bình,” Stephen nói.
Anh quan sát bà đổ sữa qua cái bình đo rồi đổ làn sữa trắng sánh đó vào bình anh đưa, không phải sữa của bà. Bầu sữa của bà đã teo lại rồi. Bà áng chừng đổ một lượng sữa nữa và nở nụ cười hiền lành, một nụ cười không vướng bụi trần. Một người già lặng lẽ đến từ thế giới sớm mai, phải chăng là một sứ giả của một thời đại đã qua, của một Ireland thuần khiết? Bà khen ngợi dòng sữa ngon mát, khi đang rót sữa ra. Được vắt giữa buổi ban trưa từ núm vú một con bò cái kiên nhẫn trên cánh đồng xanh mởn, những ngón tay nhăn nheo thoăn thoắt giữa những bầu sữa căng tròn đó. Chúng đứng im quanh bà vì chúng biết bà, lũ súc vật cho những giọt mềm như tơ. Một sắc đẹp hiếm thấy và người đàn bà già nghèo khó, số phận an bài từ thuở nào. Một bà già gầy gò đi lang thang, một kẻ thấp bé suốt đời hầu hạ kẻ chinh phạt và kẻ phản bội vô lương, những trò lường gạt tầm thường của chúng, một sứ giả của buổi sáng bí ẩn. Để phục dịch hay là để quở mắng, anh không biết; nhưng ngại ngùng không muốn hỏi.
“Sữa ngon đấy, thưa bà,” Buck Mulligan nói, rót sữa vào mấy cái cốc, giọng hắn đầy vẻ khách sáo.
“Nếm thử đi, thưa ngài,” bà nói, ánh mắt chất chứa một sự chân thành hiếm có.
Buck uống sữa trước vẻ nài nỉ của bà. “Giá như chúng ta lúc nào cũng sống nhờ mấy đồ uống tuyệt như thế này,” hắn nói có vẻ như to hẳn lên, giọng đầy vẻ châm biếm sâu cay, “thì chúng ta sẽ chẳng có thôn quê đầy răng sâu và mấy bộ lòng thối. Sống ở những nơi ẩm thấp, ăn những đồ ăn rẻ tiền và đường xá thì bụi bặm, đầy phân ngựa và rác thải.”
